Hội chứng kẻ mạo danh (Imposter Syndrome)

Sự thành công trong công việc của bạn có làm bạn sợ không? Bạn có bao giờ muốn giơ tay lên và nói rằng, “Tôi cảm thấy như một kẻ gian lận?” Nếu bạn trả lời có cho cả hai câu hỏi này, bạn có thể đang bị hội chứng kẻ mạo danh (Imposter Syndrome). Hội chứng kẻ mạo danh là một trở ngại ảnh hưởng đến rất nhiều người thành công và sáng tạo – vì họ nghi ngờ khả năng của bản thân họ.

Nhưng hội chứng kẻ mạo danh không chỉ là vấn đề cá nhân. Nếu không giải quyết chúng thì sẽ gặp nhiều thiệt hại cho bản thân. Nó có thể khiến cho ai đó không thể hiện được hết khả năng của họ. Hội chứng kẻ mạo danh có thể cướp đi công việc của nhiều tài năng cần thiết, vì nó có thể khiến cho một người nào đó tránh xa khỏi việc ứng tuyển cho một vị trí đầy thách thức mà họ thực sự có đủ điều kiện và khả năng đảm nhận. Hội chứng kẻ mạo danh cũng có thể lấy đi sự tự tin của một người mà họ cần có để cảm thấy tốt về bản thân họ.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá sâu hơn về hội chứng kẻ mạo danh. Tôi sẽ định nghĩa hội chứng kẻ mạo danh và giải thích cách nó ảnh hưởng như thế nào đến những người đang mắc phải hội chúng này. Và chỉ để chứng minh rằng bạn không phải là người duy nhất đôi khi cảm thấy như một kẻ gian lận, tôi sẽ chia sẻ lời trích dẫn từ tám người nổi tiếng và lãnh đạo thành công về hội chứng kẻ mạo danh. Cuối cùng, tôi sẽ chia sẻ bảy lời khuyên về cách chống lại hội chứng kẻ mạo danh trong cuộc sống của chính bạn.

Hội chứng kẻ mạo danh là gì?

Hội chứng kẻ mạo danh là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả những cảm giác không thích hợp mà những người thành công thường có. Thuật ngữ này được tạo ra vào năm 1978 bởi hai nhà tâm lý học lâm sàng, Tiến sĩ Pauline Clance và Tiến sĩ Suzanne Imes, như một cách để mô tả sự quan sát của họ mà nhiều phụ nữ thành công mà họ nghiên cứu cảm thấy không xứng đáng với thành công của họ.

Mặc dù nó thường được gọi là “hội chứng”, nhưng hội chứng kẻ mạo danh thực sự không phải là một tình trạng bệnh lý. Nó thậm chí không phải là sự rối loạn tâm lý. Tuy nhiên, hội chứng kẻ mạo danh là rất thực tế và nếu bạn mắc phải hội chúng này, những ảnh hưởng của nó có thể khiến bạn không sử dụng được hết đầy đủ tiềm năng của mình và làm cho bạn không thể hưởng thụ những thành công mà bạn có. Hội chứng kẻ mạo danh đôi khi còn được gọi là hiện tượng kẻ mạo danh.

Hội chứng kẻ mạo danh sẽ cảm thấy như thế nào?

Hãy tưởng tượng rằng bạn vừa có một sự thăng tiến lớn trong công việc. Bạn đã làm việc chăm chỉ để có được vị trí đó, nhưng thay vì cảm thấy hài lòng với thành tích của bạn, bạn đang đầy sợ hãi. Mặc dù tất cả các đồng nghiệp của bạn đồng ý rằng bạn có đủ khả năng để thực hiện công việc đó, nhưng bạn sợ rằng bạn sẽ xấu hổ khi mọi người phát hiện ra rằng bạn thực sự không xứng đáng. Tệ hơn nữa, bạn sợ bạn sẽ mắc một sai lầm ngớ ngẩn và mọi người sẽ nhận ra bạn là một kẻ mạo danh. Đó là những gì mà hội chứng kẻ mạo danh thể hiện.

Có bao nhiêu người đang mắc phải hội chứng kẻ mạo danh?

Rất nhiều người đang mắc kẹt với nó. Trong khi các nghiên cứu khác nhau về chính xác có bao nhiêu người phải đối mặt với hiện tượng kẻ mạo danh, thì một số nghiên cứu ước tính rằng có 7 trên 10 người trong chúng ta sẽ gặp phải hội chứng kẻ mạo danh ít nhất một lần. Trong khi các nhà nghiên cứu ban đầu tin rằng nó là vấn đề của hầu hết phụ nữ, thì các nghiên cứu sau đó đã chỉ ra rằng hội chứng kẻ mạo danh không chỉ giới hạn ở phụ nữ.

Hiệu ứng Dunning Kruger “Biết càng nhiều thì biết càng ít”

Thật chẳng lạ gì khi chúng ta có những người bạn tự tin “quá đà” khi mới biết chút kiến thức hơn dân nghiệp dư. Vậy nguyên nhân do đâu? Một facebooker có tên Jul Tran đã lý giải vấn đề này khá logic trên trang cá nhân như sau:

Đầu tiên, họ chẳng biết gì cả, và hiển nhiên họ cũng tự hiểu rằng mình kém. Một người mới chơi poker thời gian đầu sẽ như vậy, rụt rè, vừa đánh vừa nhìn quanh để học hỏi, về nhà có khi còn bật youtube lên tìm xem Phil Ivey hoặc Tom Dwan chơi.

Được một thời gian, tiến bộ một chút, đạt được chút thành công, họ bỗng nghĩ họ cực kỳ giỏi. Đây là những người chơi poker từ 1 đến vài năm, ăn được nhiều tiền khi cash game với gà hoặc thắng được vài giải lớn, bắt đầu nhảy lên chơi high stakes, ngồi trên bàn thì bình phẩm chê bai cách chơi của người khác.

Họ cũng không đủ trình độ để nhận ra cái giỏi của những chuyên gia thực thụ, vì thế dạo quanh forum poker, ta thường bắt gặp những bình luận kiểu như “Thằng A mà cũng gọi là top pro? Tao ngồi chung bàn với nó rồi, đánh thường lắm”.

Người nghệ sĩ hàng đầu mới cẩm nhận rõ ràng được sự khác biệt giữa một chiếc đàn hàng chục nghìn USD và một chiếc guitar hàng chợ. Những bậc thầy ẩm thực mới thấy hết được độ tinh tế trong tô nước dùng của một hàng phở gia truyền.

Đồ thị thể hiện sự biến đổi trong độ tự tin của mỗi người

Đến một lúc nào đó, họ vượt qua “đỉnh của ngọn núi Vô Tri”, bắt đầu ngộ ra rằng, kiến thức thật mênh mông, còn quá nhiều điều ta không biết. Với những người chơi poker, đó thường là lúc họ bị downswing, không còn may mắn nữa, thua liên tục, bị hiện thực đập vào mặt, hoặc khi họ bắt đầu tiếp cận với các phương pháp, lối chơi hiện đại, khoa học.

Lúc này họ nhận ra mình nhỏ bé thế nào, và bắt đầu thấy ngợp, thấy tuyệt vọng, ở đáy của sự tự tin, phong độ của họ cũng sụt giảm vì họ trở lại với sự rụt rè, không dám bluff, không dám thin value bet.

“Ngày trước mới chơi thì đánh toàn thắng, giờ biết chơi rồi thì đánh toàn thua” là một câu than vãn quen thuộc. Rất nhiều người từ bỏ giấc mơ theo đuổi con đường chuyên nghiệp vào lúc này, bởi poker không phải cái nghề đơn giản nhẹ nhàng vừa chơi vừa vui vừa có tiền như ban đầu họ ngây thơ nghĩ, hóa ra nó cũng khó, cũng đòi hỏi bỏ trí tuệ công sức như bất cứ nghề nào khác.

Những người còn trụ lại được, sẽ từng bước bò dần lên trên triền đồi khai sáng. Từng bước, từng bước, càng học, họ càng ngộ ra một chút, hiểu thêm một chút, tự tin lên một chút. Rồi một ngày kia, có thể họ sẽ trở thành một chuyên gia thực sự.

Họ sẽ tự tin trở lại, nhưng sự tự tin của họ đến từ kiến thức của họ, do họ đã chiến đấu để giành được nó một cách xứng đáng, chứ không phải sự tự tin đến từ ngộ nhận.

Diễn biến tâm lý miêu tả ở trên được khoa học gọi là hiệu ứng Dunning Kruger, và nó tồn tại trong mọi lĩnh vực, không chỉ trong poker.

Những người biết một chút, giỏi hơn dân nghiệp dư chút xíu, chính là những người ảo tưởng nhất về bản thân, và rất dễ đưa mình vào hiểm nguy.

Người biết lái xe được tầm một năm là những người dễ gây tai nạn nhất. Mấy thanh niên mới học võ là những người hùng hổ nhất.

Người biết bơi tạm khá là những người dễ chết đuối nhất.

Những người đã bể bankroll, nợ nần rồi dần biến mất trong làng poker là những người từng rất nổi sau khi hit được vài tour lớn nọ kia cách đây vài năm, chứ không phải những người chơi gà gà thua suốt.

Hiệu ứng Dunning Kruger cũng phổ biến ở những chuyên gia mới nhảy sang một lĩnh vực tay trái khác.

Họ vốn là chuyên gia của lĩnh vực cũ, với vốn kiến thức, hiểu biết mà mình đã đúc kết được, đã chứng tỏ khả năng qua bao thử thách, nên họ rất tự tin.

Họ tưởng rằng, với lĩnh vực mới, họ cũng giỏi như vậy. Dân poker chuyên nghiệp rất thích nhảy vào forex, crypto, phái sinh, sẵn sàng đầu tư hàng chục ngàn USD dù chưa qua trường lớp nào.

Tổng thống Trump lão luyện kinh doanh, rất tin vào trực giác của mình đã được trui rèn qua hàng chục năm chinh chiến trên thương trường, nhưng tiếc rằng ông lại áp dụng mù quáng sự tự tin đó, trực giác đó vào lĩnh vực khoa học, y tế mà ông chỉ là tay mơ, thay vì lắng nghe chuyên gia, cố vấn.

Người nổi tiếng trên mạng, các hot blogger rất thích nêu quan điểm, bình luận của mình một cách chắc mẩm, cực đoan về những lĩnh vực có khi chả ăn nhập gì với chuyên môn của họ (chẳng hạn bầu cử tổng thống Mỹ).

Chú ý, đây không phải vấn đề của trí thông minh. Không phải người nào bị dính sai lầm này là ngu ngốc, còn người thông minh sẽ miễn nhiễm.

Hiệu ứng này phổ biến là do cấu tạo, cách nghĩ của não người, vốn chỉ thấy được những gì nó thấy trước mắt, chứ rất khó cảm được những gì nó không biết, nằm ngoài tri giác.

Bất cứ ai cũng có những lĩnh vực nằm ngoài chuyên môn của họ mà họ đang ảo tưởng, chẳng hạn tưởng rằng mình hát hay (thế nên mới có vấn nạn karaoke kẹo kéo), tưởng rằng mình xinh đẹp duyên dáng khéo nói chuyện (người người nhà nhà đổ đi làm live stream, làm youtuber). Và khó khăn nhất là bạn không thể thay đổi cách nghĩ của họ, dù bạn có cố dùng lập luận, logic, phản chứng chi tiết, xác đáng thế nào.

Đừng tranh cãi về poker với một người chưa từng nghe đến khái niệm equity, đừng cố thuyết phục một người rời bỏ mạng đa cấp Bitconnect nếu họ còn chẳng biết blockchain là gì. Cái quan trọng hơn với mỗi chúng ta là tự bảo vệ mình trước hiệu ứng Dunning Kruger. “Trước khi tìm cách tranh luận với một thằng ngu, hãy đảm bảo đối phương đang không làm điều tương tự”. Tập lắng nghe ý kiến trái chiều, những góc nhìn đối lập.

Trước khi đưa ra một luận điểm, hãy thử tự phản bác lại luận điểm đó hết sức có thể. Hãy dùng đến thống kê, dữ liệu, phần mềm để có được đánh giá khách quan nhất về khả năng thực sự của mình. Bất cứ khi nào bạn thấy mình suy nghĩ “hoàn toàn chắc chắn”, “tôi khẳng định”, “không nghi ngờ gì”, “tôi không thể sai”, đó là lúc bạn nên bắt đầu hoài nghi về chính mình.

Như vậy, có thể bạn và tôi:

– Ta vô thức không biết, những điều ta không biết

– Ta ý thức biết, ta không biết điều gì

– Ta ý thức biết, ta biết làm gì

– Ta vô thức biết, ta biết làm gì…và rồi lại vô thức không biết những điều ta không biết.

Liệu bạn có biết mình đang ở đâu trong quá trình học hỏi và đi đến thành công chưa?

Tháp nhu cầu Maslow

Tháp nhu cầu Maslow được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của cuộc sống. Hiểu rõ được năm thứ bậc của Tháp nhu cầu Maslow sẽ giúp ích rất nhiều cho mỗi cá nhân cũng như các doanh nghiệp.

Để hiểu rõ hơn về Tháp nhu cầu Maslow cũng như những ứng dụng của nó, hãy cùng tìm hiểu xem Tháp nhu cầu Maslow là gì?

Năm 1943, nhà tâm lý học nhân văn Abraham Maslow đã đưa ra Tháp nhu cầu Maslow hay Maslow’s hierarchy of needs. Đây được xem là một trong các lý thuyết quan trọng nhất trong ngành quản trị kinh doanh. Lý thuyết này sau khi đưa ra đã gây nên sức ảnh hưởng vô cùng lớn bởi những ứng dụng tuyệt vời của nó trên mọi lĩnh vực. Đầu tiên phải kể đến là quản trị nhân sự, đào tạo hay quản trị marketing… Tháp nhu cầu Maslow còn được sử dụng để giải thích một vài hiện tượng trong cuộc sống.

Ý tưởng tháp nhu cầu của Maslow:

Maslow cho rằng, nhu cầu của con người được chia theo các cấp bậc khác nhau từ nhu cầu cơ bản ( ở tầng dưới cùng) cho đến các nhu cầu cao hơn ở các cấp bậc cao hơn được xếp các tầng phía trên. Các nhu cầu cơ bản sẽ được ưu tiên hơn bao gồm ăn uống, ngủ nghỉ, sinh lý,.. vì nó gần như là không thể thiếu. Sau đó mới đến các nhu cầu cấp cao hơn như sự an toàn, kết nối hay ở những bậc cao hơn là được tôn trọng, được thể hiện bản thân.

5 cấp bậc của Tháp nhu cầu Maslow:

Tầng 1: Nhu cầu cơ bản (basic needs)

Nhu cầu cơ bản như ăn, uống, ngủ, nghỉ ngơi, tình dục…là những nhu cầu mạnh mẽ nhất và không thể thiếu được của con người. Nó được xếp ở dưới cùng của Tháp nhu cầu Maslow. Nếu thiếu đi những nhu cầu cơ bản này thì chúng ta không thể tồn tại được, và những nhu cầu cao hơn cũng không thể xuất hiện.

Tầng 2: Nhu cầu về an toàn – được bảo vệ (safety needs)

Tầng thứ hai của Tháp nhu cầu Maslow là sự an toàn. Đó là việc bạn không chỉ ăn thôi chưa đủ, mà còn phải là ăn những thức ăn sạch, hít thở trong bầu không khí trong lành, được sống trong môi trường đảm bảo trật tự an ninh.

Tầng 3: Nhu cầu về xã hội – kết nối (social needs)

Sau nhu cầu được bảo vệ là nhu cầu kết nối với xã hội. Ở tầng thứ ba này, thể hiện mỗi người đều mong muốn được gắn bó với một tổ chức hay một nơi nào đó, và muốn được yêu thương. Vì vậy, chúng ta luôn muốn có những mối quan hệ như bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, các câu lạc bộ đội, nhóm,..

Tầng 4: Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)

Có 2 trạng thái đối với nhu cầu ở bậc thứ 4 này, đó là: Nhu cầu được người khác quý trọng và công nhận bản thân. Ngoài ra là việc tự mình tôn trọng bản thân và tự tin vào năng lực của mình. Khi đáp ứng được nhu cầu thứ ba là nhu cầu về kết nối trong xã hội thì con người trong một tập thể muốn có nhu cầu được tôn trọng và công nhận năng lực của mình. Đó là động lực thúc đẩy họ nỗ lực hơn trong công việc.

Tầng 5: Nhu cầu thể hiện mình (self-actualizing needs)

Nhu cầu ở bậc thứ 5 này cũng là nhu cầu khó đạt được nhất. Theo Maslow, nhu cầu của cá nhân muốn được là chính mình, được làm việc  mà bản thân sinh ra để làm. Đó là sự khát khao của mỗi cá thể trong việc thể hiện thế mạnh của bản thân, cống hiến sức lực của mình cho xã hội.

Những ứng dụng của Tháp nhu cầu Maslow:

Có thể kể đến những ứng dụng của Tháp nhu cầu Maslow trong quản trị nhân sự, chẳng hạn như trong một công ty Tháp nhu cầu Maslow được thể hiện qua

1. Đáp ứng Nhu cầu cơ bản: Trả lương cho nhân viên xứng đáng và công bằng.

2. Đáp ứng nhu cầu an toàn: Tạo nên nơi làm việc và các điều kiện khác tốt để nhân viên yên tâm làm việc.

3. Bảo đảm đáp ứng nhu cầu xã hội: Tạo nên văn hóa làm việc qua các hình thức đội nhóm, giữa các phòng ban hay công đoàn, các hoạt động khác như: teambuilding, du lịch,..

4. Nhu cầu được tôn trọng: Xây dựng lộ trình thăng tiến rõ ràng cho nhân viên: mức lương, vị trí, quyền hạn, trách nhiệm.

5. Nhu cầu thể hiện bản thân: Cung cấp các cơ hội phát triển cho các thế mạnh bản thân

Mỗi cá thể đều tồn tại cho riêng mình 5 bậc thang nhu cầu khác nhau. Hiểu rõ và biết cách ứng dụng Tháp nhu cầu Maslow trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống sẽ giúp mỗi người thành công hơn.

Khủng hoảng bản sắc (identity crisis) — Điều tất yếu để trưởng thành

Nó giúp bạn lựa chọn con đường của mình thay vì dựa trên những tiêu chuẩn và định hướng của ai khác.

“Khủng hoảng bản sắc”, hay còn gọi là “khủng hoảng căn tính” (identity crisis), một trạng thái khi ta không hiểu rõ bản thân – điểm mạnh, điểm yếu, tính cách,… – tất cả những gì tạo nên chính ta. Chúng ta có thể trải qua khủng hoảng bản sắc cá nhân ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời.

Tuy nhiên, trạng thái này thường gặp nhất ở độ tuổi dậy thì cho đến khi bước vào giai đoạn trưởng thành của những năm 20, 30 tuổi. Đây là lứa tuổi chuyển giao giữa trẻ con và người lớn, khi chúng ta trải qua những thay đổi liên tục về cơ thể, hormones, cảm xúc và khả năng nhận thức. Lần đầu tiên trong đời, chúng ta suy tư về sự nghiệp, vai trò của mình trong xã hội, và đôi khi là cả bản sắc giới.

Khủng hoảng bản sắc không đáng sợ

Nghe đến từ “khủng hoảng”, có thể nhiều người cảm thấy giai đoạn này thật đáng sợ, nhưng thực chất nó lại giúp chúng ta định hình tính cách và khám phá bản thân mình sâu sắc hơn.

Giai đoạn này giúp bạn lựa chọn con đường của mình thay vì dựa trên những tiêu chuẩn và định hướng của ai khác.

Khái niệm này đến từ nhà tâm lý học phát triển Erik Erikson. Ông đưa ra học thuyết cho rằng có 8 giai đoạn phát triển tâm lý trong cuộc đời, mỗi giai đoạn sẽ xuất hiện sự khủng hoảng, đòi hỏi chúng ta vượt qua một cách lành mạnh để phát triển nhân cách của mình. “Khủng hoảng bản sắc cá nhân” là giai đoạn thứ 5, thường gặp ở khoảng 12 đến 18 tuổi.

Theo Erikson, có nhiều lợi ích trong việc khám phá bản sắc cá nhân trong những năm tháng thiếu niên. Chỉ khi nghiêm túc suy nghĩ về những mâu thuẫn bên trong mình và tìm cách giải quyết chúng, con đường lúc trưởng thành của bạn mới là con đường bạn tự mình lựa chọn, thay vì dựa trên những tiêu chuẩn và định hướng của ai khác.

Không phải ai cũng trải qua khủng hoảng bản sắc cá nhân

Các nhà tâm lý học đã mở rộng học thuyết của Erikson, trong đó có James Marcia, với mô hình 4 trạng thái của bản sắc cá nhân (4 identity statuses). Một người có thể trải nghiệm cả 4 trạng thái của bản sắc cá nhân, hoặc chỉ luôn ở trong một trạng thái cho đến cuối đời.

Mô hình 4 trạng thái của bản sắc cá nhân.

Trong mô hình này, các trạng thái được xây dựng trên 2 trục Cam kết và Khám phá. Những người có mức độ cam kết cao biết rõ mình là ai và có niềm tin mạnh mẽ vào lựa chọn của mình. Ngược lại, những người có mức độ cam kết thấp là những người không chắc chắn về chính mình.

Tương tự, trục Khám phá cho biết mức độ chủ động trong việc đặt câu hỏi về bản thân, đi sâu vào nội tâm và tự đưa ra các lựa chọn của người đó.

1. Identity diffusion – Căn tính mờ nhạt

Sự cam kết và khám phá của trạng thái này đều ở mức thấp. Những người trong trạng thái này không có khái niệm rõ ràng về cái tôi cá nhân, vai trò của mình trong xã hội, và cũng không chủ động khám phá các lựa chọn cho mình. 

Theo Marcia, họ ít có cảm giác lo âu bởi họ không mấy đầu tư vào điều gì. Họ phản ứng thụ động với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống theo kiểu “tới đâu hay tới đó”. Tính cách, mục tiêu và các khía cạnh khác của con người họ rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

2. Identity foreclosure – Căn tính nhận sẵn

Có những người hoàn toàn không trải qua khủng hoảng bản sắc cá nhân, đó là trạng thái này. Những người này có thể cam kết với một vai trò, giá trị hay mục tiêu nào đó – đôi khi được xây dựng từ các hình mẫu có sẵn – mà không cần tự khám phá.

Chẳng hạn, một cô gái được dạy rằng phụ nữ không cần quan trọng sự nghiệp, chỉ cần ổn định gia đình, chăm sóc con cái là được. Sau khi lấy chồng, cô quyết định nghỉ việc và ở nhà làm nội trợ giống mẹ mình, cô coi đây là lựa chọn hiển nhiên mà không suy xét đến các khả năng khác. 

James Marcia cũng nhấn mạnh rằng một khi những người ở trạng thái “foreclosure” đã bắt đầu trải nghiệm khủng hoảng bản sắc cá nhân thì việc quay trở lại trạng thái này là điều không thể. Tựa như bạn đã mở tấm vải bịt mắt ra, thì dù có thích thứ mình nhìn thấy hay không, bạn cũng không thể quên nó được.

3. Identity moratorium – Căn tính đình hoãn

Người ở trong trạng thái này có mức độ khám phá cao nhưng cam kết thấp. Đây là trạng thái của rất nhiều người trẻ tuổi khi liên tục thử nghiệm với các giá trị, niềm tin và mục tiêu khác nhau, nhưng chưa gắn bó với điều gì cụ thể. Nhiều người bị đánh giá là “lông bông” vì chưa đạt được sự ổn định mà xã hội trông đợi khi đến độ tuổi nhất định. 

Tuy nhiên, sự đình hoãn này đôi khi cần thiết để một người khám phá đủ sâu sắc về bản thân, trước khi quyết định đâu mới là kim chỉ nam dẫn lối cho cuộc đời mình.

4. Identity achievement – Căn tính đạt thành

Đây là trạng thái lý tưởng nhất với mức độ cam kết và khám phá đều cao. Người đạt được trạng thái này đã biết giá trị, niềm tin nào quan trọng nhất với mình, và xác định được mục tiêu phù hợp với những giá trị ấy. Thành quả này có được nhờ một quá trình chủ động khám phá bản thân và trải nghiệm nhiều lựa chọn khác nhau. 

Đối diện với khủng hoảng bản sắc cá nhân

Bước đầu tiên là chấp nhận sự tồn tại của nó. Một khi coi nó là phần tất yếu của trưởng thành, chúng ta mới có thể thẳng thắn và bao dung cho cái tôi dễ tổn thương của mình. 

Tiếp đến, hãy hiểu rằng bạn không cần thiết phải định nghĩa chính mình bằng một cái khung cố định nào cả. Bạn có thể liên tục tìm hiểu bản thân mình suốt cuộc đời và nhận thấy mình vẫn luôn thay đổi. Điều đó chẳng nói lên sự bất ổn nào về bạn.

Bước đầu tiên để đối diện với khủng hoảng bản sắc là chấp nhận sự tồn tại của nó.

Cuối cùng, câu trả lời cho việc vượt qua khủng hoảng chỉ có thể tìm thấy bên trong chính bạn. 

Quan sát cách bạn sử dụng thời gian rảnh

Khi được hỏi về sở thích, chúng ta thường nêu những thứ chung chung như xem phim, đọc sách, nghe nhạc,…, nhưng điều khiến chúng ta khác nhau là những thứ cụ thể hơn thế. 

Nếu bạn thích đọc sách, cuốn sách yêu thích của bạn là gì? Hình mẫu nhân vật nào trong phim ảnh thường truyền cảm hứng cho bạn? Thần tượng của bạn là ai và tại sao bạn lại yêu mến họ? 

Chúng ta có thể biết về mình rất nhiều qua những thứ mà tưởng chừng ta làm chỉ để “giết thời gian”. Trong đó ẩn chứa cái tôi bị kìm nén của bạn, con người mà bạn thật sự muốn trở thành, và đôi khi là cả ước mơ mà bạn nghĩ mình đã từ bỏ nữa. 

Quan sát những mối quan hệ của bạn 

Cụ thể là những người cho bạn cảm giác tin tưởng, được là chính mình khi ở bên họ, và cả những người thường xuyên phán xét, khiến bạn thấy tiêu cực. Cách tương tác của bạn với họ, cảm xúc của bạn khi ở bên họ có thể cho bạn biết những kiểu tính cách tương đồng với bạn, những giá trị, niềm tin mà bạn chấp nhận. 

Đôi khi chúng ta sẽ có những “điểm mù” nhất định khi đánh giá bản thân, việc nhìn lại các mối quan hệ bạn bè có thể giúp ta hiểu rõ mình hơn.

Quan sát các cộng đồng của bạn 

Mỗi chúng ta đều thuộc về những cộng đồng nào đó, có thể là gia đình, trường lớp, nơi làm việc, câu lạc bộ, hoặc thậm chí là một cộng đồng trên mạng xã hội, một cộng đồng fan hâm mộ,… 

Bạn mang dáng vẻ ra sao khi ở trong mỗi cộng đồng như thế? Đâu là nơi khiến bạn có cảm giác thoải mái, được là chính mình nhất? Ngược lại, đâu là nơi bạn phải đeo lên nhiều lớp mặt nạ nhất để thích nghi? 

Cách bạn hoạt động trong các cộng đồng cho thấy vai trò bạn muốn đóng góp, cũng như nơi mà bạn muốn thuộc về. Nhiều người không đạt được thỏa mãn trong công việc và cuộc sống vì không tìm được cộng đồng phù hợp, nơi họ thấy mình có giá trị, được ghi nhận và được sống đúng với bản thân.

Kết

Có rất nhiều câu hỏi mà bạn phải đặt cho bản thân để tìm kiếm chính mình. Đôi khi bạn sẽ cần đến sự giúp đỡ của người khác. Nhưng cuối cùng, chỉ có bạn mới có thể quyết định mình là ai, và muốn trở thành ai trong đời.

Nguồn: https://vietcetera.com/vn/khung-hoang-ban-sac–dieu-tat-yeu-de-truong-thanh

Giới thiệu về tính cách INFP

Tự nhiên tốn 12k MOMO vì cái kết quả này

INFP là kết quả có được từ bài kiểm tra tính cách MBTI của 2 tác giả Myers–Briggs bao gồm Introversion – (Hướng nội), Intuition – (Trực giác), Feeling (Cảm xúc), Perception (Nhận thức). Là hình mẫu tính cách của người hoà giải.

Nhóm tính cách này được các nhà nghiên cứu tâm lý học gọi bằng những cái tên như “Người duy tâm”, “Kẻ hòa giải”, “Kẻ tạo sự đồng điệu”, “ Những người tìm kiếm và giữ giá trị của con người” hay còn được nhắc đến “Những kẻ mộng mơ”.
 

Nhóm tính cách hiếm này chỉ bao gồm 4% dân số thế giới bao gồm những người:

Thích dành thời gian một mình hay với một người vài bạn đáng tin cậy.
 

Suy nghĩ một cách tóm tắt và thích làm việc với ý tưởng và các chủ đề.


Quan trọng các mối quan hệ


Có xu hướng làm mọi thứ tự phát, không thương lên kế hoạch.


Đây là nhóm tính cách của những người nổi tiếng như:
 

  • Audrey Hepburn
  • Princess Diana
  • J. K. Rowling
  • J. R. R. Tolkien
  • John Lennon
  • Isabel Briggs Myers


INFP là những cá thể phức tạp và không thích điều gì qua loa. Cho dù đó là sự nghiệp hay hôn nhân, họ đều muốn mọi thứ thật lý tưởng, tuy nhiên thực tế không phải luôn luôn như những gì họ muốn.
 

Những người này thường xuyên cố gắng nhất có thể với những mục tiêu rất cao của họ; nếu sự việc không tốt, họ thường than vãn và trở thành những người sống trong thế giới huyền ảo và không hành động gì.
 

ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH CỦA INFP
 

INFP có một sức hấp dẫn bởi vì họ không tuân thủ theo truyền thống nào; thay vào đó, họ thích khám phá mọi thứ bằng khả năng của họ và tự định nghĩa điều gì là đúng mà không nghe lời ai cả. Họ cũng là những người thích khám phá những cách sống khác nhau: họ có đi tình nguyện cho những nhiệm vụ cao cả về con người ở một đất nước xa lạ và đi vòng quanh thế giới như một người du lịch balo và tự lo liệu cho cuộc sống của mình.
 

Những người này muốn cảm thấy cuộc đời thật đầy ý nghĩa – ngay cả khi công việc của họ phải thích hợp với hệ thống giá trị của riêng họ; lý tưởng hơn nó phải là một điều gì đó có mục đích. Nếu hai điều kiện không được thỏa mãn, INFP sẽ nhanh chóng cảm thấy thất vọng và căng thẳng.
 

Những người đàn ông và phụ nữ có thể rất xa cách và dè dặt vào lúc, nhưng một khi bạn đã thân với họ, bạn sẽ thấy họ là những người đầy cảm xúc. Họ thích nói về những chủ đề như sự phát triển của tâm hồn, đạo đức, con người, giá trị và sự việc phải xảy ra như thế nào.
 

Mọi vài người trong số họ có thể rất bừa bộn và thiếu tổ chức bởi họ nghĩ rằng lo lắng quá nhiều cho ngoại hình hay dọn dẹp nhà cửa là không quan trọng. Họ có thể quên mất cuộc hẹn và điều này lại không tốt cho sự cố gắng gắn bó với mọi người của họ. Một vài INFP sẽ “dọn dẹp” bằng cách giấu hết đồ thừa, đồ dơ vào phòng riêng hay tủ quần áo, có thể bạn nhìn chung nhà họ sẽ gọn gàng sạch sẽ, nhưng khi mở cửa phòng hay tủ mọi thứ sẽ rơi ra.
 

Những người khác sẽ nghĩ INFP rất tích cực trong cuộc sống: Họ muốn sống cuộc sống của mình dựa theo luật lệ riêng của họ và hạnh phúc khi làm những người khác hài lòng. Nó là chính xác ở một phần nào đó khi những người chỉ muốn mọi thứ được theo vốn dĩ của nó và họ lẫn tránh việc xung đột nhiều nhất có thể. Khi giá trị của họ bị làm hại, tuy nhiên, INFP có thể sẽ ngạc nhiên những người khác bằng khả năng chống trả lại.
 

Họ luôn cảm thấy khó khăn để hoàn thành dự án của mình bởi vì họ luôn cảm thấy mọi thứ có thể tốt hơn. Trở thành những người chỉ trích bản thân tồi tệ nhất, họ luôn cố gắng cho sự hoàn hảo, nhưng chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với bản thân. Những công việc của họ, dự án của INFP có thể vẫn đang dang dở bởi tiêu chuẩn quá cao của chính nhóm tính cách này.
 

INFP TRONG CÔNG VIỆC VÀ HỌC TẬP
 

Những người mang nhóm tính cách này họ tốt nhất trong môi trường thoải mái, linh hoạt, nơi họ có thể được phép tự do khám phá những môn học mà họ có hứng thú và sự sáng tạo của họ được trân trọng và khuyến khích. Mặc dù họ chưa bao giờ cảm thấy công việc tốt đầy đủ và luôn trì hoãn nó để đánh giá, tạo ra thời hạn cuối có lẽ là cách tốt nhất cho họ để họ hoàn thành công việc của mình. Những người INFP khi còn trẻ không thường xuyên đi theo luật lệ, nhưng họ cũng chẳng chống đối bao giờ. Bởi vì sự sáng tạo của mình, họ ít khi chịu tuân thủ theo hướng dẫn một cách nghiêm ngặt và chăm chỉ.
 

INFP cần một môi trường làm việc yên tĩnh và một công việc theo đúng mong muốn của họ và phù hợp với giá trị bản thân. Họ ưa thích làm việc một mình hoặc với những người đồng nghiệp có cùng những nguyên tắc với họ.
 

Khi nó họ cần phải làm việc với nhiều mục tiêu, động lực thúc đẩy duy nhất có thể chấp nhận đó chính là sự chân thành. Ví dụ, INFP không thích những người có tính cạnh tranh quá cao hay ai chỉ chú trọng đến lương bổng hơn công việc.
 

Với những giá trị trong tư tưởng của họ, INFP muốn cổ vũ đồng nghiệp từ phía bên trong và giúp họ làm việc độc lập. Bởi vì INFP không thích đối đầu và không thường đánh giá người khác, họ thích tạo động lực đồng nghiệp bằng sự trân trọng và sự khen ngợi. Trong khi đó, họ thường bỏ qua những vấn đề với hi vọng rằng nó sẽ vượt qua với sự không chú ý của họ.
 

Những công việc có lẽ rất thích hợp cho họ:
 

  • Diễn viên
  • Hoạt hình
  • Nhà khảo cổ học
  • Kiến trúc sư
  • Tư vấn nghề nghiệp
  • Giảng viên đại học
  • Quản lý dịch vụ cộng đồng
  • Biên tập viên
  • Tư vấn giáo dục
  • Giáo viên tiểu học
  • Phát triển nhân viên
  • Giải trí
  • Nhà thiết kế thời trang
  • Biên tập phim
  • Nghệ sĩ tài
  • Gây quỹ
  • Tư vấn di truyền
  • Nhà địa lý
  • Người thiết kế đồ họa
  • Nhà sử học
  • Phát triển nhân sự
  • Chuyên gia Nhân sự
  • Thông dịch viên
  • Nhà báo
  • Tư vấn sức khỏe tâm thần
  • Nữ hộ sinh
  • bộ trưởng, mục sư
  • Nghệ sĩ đa phương tiện
  • Nhạc sĩ
  • Tiểu thuyết
  • Chuyên gia dinh dưỡng
  • Họa sĩ
  • Nhiếp ảnh gia
  • Giáo viên mầm non
  • Giáo sư
  • Bác sĩ tâm thần
  • Nhà tâm lý học
  • Chuyên viên quan hệ công chúng
  • Trợ lý nghiên cứu
  • nghiên cứu viên
  • Tư vấn viên của trường
  • Nhà khoa học xã hội
  • Nhân viên xã hội
  • Nhà xã hội học
  • Giáo viên giáo dục đặc biệt
  • Chuyên gia
  • Chuyên gia bệnh học về lời nói
  • Phiên dịch
  • Bác sĩ thú y
  • Nhà văn
     

NHỮNG SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ INFP
 

  • INFP đọc vị người khác rất tốt.
  • INFP có thể rất ngại ngùng.
  • INFP thích ở lại trong một mối quan hệ tệ hại.
  • INFP có xu hướng tự trách bản thân cho những điều đã sai.
  • Cho dù hay tự trách bản thân nhưng họ cũng rất quan tâm đến lòng tự trọng của những người khác.
  • INFP thường xuyên thay đổi sở thích và đam mê.
  • Những người với tính cách INFP không quan tâm đến việc bắt buộc những người khác phải giống họ – họ biết cách trân trọng những người khác khi họ là chính họ.
  • Nhiều INFP phải trải qua cảm giác không an toàn.
  • INFP có thể không thể thể hiện được cảm xúc.
  • INFP thường có khiếu hài hước tốt.
  • Nhiều INFP chính là những người viết văn tuyệt vời.
  • INFP vừa có tò mò mà cũng có ngại ngùng cùng một lúc.
  • INFP thích làm mọi thứ theo tâm trạng của họ, chứ không có kế hoạch hoặc dự định.

Giá trị của con

MỘT NGƯỜI CHA ĐÃ NÓI VỚI CON TRAI CỦA MÌNH VỪA TỐT NGHIỆP 👨🎓:

Con đã tốt nghiệp, Bố sẽ dành tặng cho con một chiếc xe bố đã mua được nhiều năm trước… nó đã hơn 50 tuổi.

Nhưng trước khi bố đưa nó cho con, con hãy đưa nó đến chỗ bán xe cũ đã qua sử dụng xem họ trả cho nó bao nhiêu.

Người con trai đi đến chỗ xe đã qua sử dụng, trở về với cha và nói: “Họ được đề nghị 1,000 đô la vì nó trông nó đã quá đát”.

Cha nói: “Con đưa nó đến tiệm cầm đồ”

Ng con trai đưa đến tiệm cầm đồ, trở về nói với cha: “Tiệm cầm đồ đã đề nghị 100 đô la vì nó là một chiếc xe sắt vụn”

Cha bảo con trai đưa nó đến câu lạc bộ ô tô và cho họ xem xe.

Đứa con trai đưa xe đến câu lạc bộ, trở về và nói với cha: “Một số người ở câu lạc bộ đã đề nghị $ 100,000 cho nó, vì nó là một Mustang cổ điển và được tìm kiếm rất khó thấy trong số các thành viên câu lạc bộ”

Người cha nói với con trai của mình: “Bố muốn con biết rằng con hãy ở đúng nơi coi trọng con đúng cách”…

Nếu con không có giá trị, đừng buồn và tức giận, điều đó có nghĩa là con đang ở sai chỗ. Những người biết giá trị của con là những người đánh giá cao về con, và không bao giờ đc ở một nơi mà không ai nhìn thấy giá trị của con.

Người Việt – Sưu tầm

Tôi hồi nhỏ được giáo dục kỹ để trở thành cháu ngoan bác Hồ, một người yêu nước. Mới 6,7 tuổi là tôi hay đến mấy chỗ bầu cử xin mấy cá cờ Việt Nam. Năm lớp 3 khi được kết nạp vào đội, tôi rất háo hức và vui mừng, rất thích thắt khăng quàng đỏ, ngày nào đi học cũng thắt. Hồi nhỏ đi học tui được dạy là “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em” Do đó tôi cố gắng học tập về khoa học kỹ thuật, lịch sử, địa lý. Thậm chí sau khi thất học năm lớp 6 tôi vẫn tự mua sách giáo khoa về tự học lấy. Tôi muốn giúp Việt Nam một ngày trong tương lai trở thành cường quốc có vị thế ngang hàng với Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức.

Tuy nhiên khi lớn tôi nhận ra chính cả bản tính bảo thủ không biết tiếp thu, ích kỷ, vì lợi ích cá nhân và gia đình của dân tộc mình mà Việt Nam mãi là nước nhược tiểu. Từ những cái nhỏ nhặt như chạy xe vượt đèn đỏ, chạy lên lề đường, đánh bắt cá dùng chích điện hay cào để tận diệt cả cá con… Kinh tế phát triển hơn thay vì chú trọng giáo dục, khoa học kỹ thuật thì đa số chỉ lo ăn chơi đua đòi. Ngày xưa trên truyền hình nhiều chương trình giáo dục khoa học kỹ thuật rất hay, còn giờ thì ngập tràn game shows hài nhảm, hát hò. Đá, showbiz đến cả mấy người hát cải lương hồi xưa như kim tử long cũng chạy game shows. Còn 2 thằng ml trấn thành trường giang thì phủ sóng khắp các đài. Đám người mẫu hoa hậu từ mấy cuộc thi nhan sắc chủ yếu dùng làm bàn đạp đi lấy đại gia sống sung sướng cho bản thân. Về kinh tế, thì người người đầu cơ bất động sản mua đi bán lại đẩy giá kiếm lời chứ chả tạo ra giá trị thặng dư nào cả.

Nói thẳng là VN mãi là nước nhược tiểu không phải do chiến tranh, cấm vận, hay bị chiếm làm thuộc địa mà là do bản tính bảo thủ, ích kỷ, không đoàn kết của dân Việt thời bình. Ngoài ra, còn do tính thích ăn chơi, nhậu nhẹt, cờ bạc. Cuối cùng đại bộ phận thích an phận, không có chí lớn, không thích những gì hàn lâm, chỉ thích được khen nịnh, ghét bị chê bai, không dám nhận ra điểm yếu kém của bản thân để sửa đổi hoàn thiện hơn. Thậm chí có nhiều người còn đem vụ gia đình con cái ra làm thước đo thành công nữa. Với những người này họ cho là chỉ cần lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái đã là thành công.

Cái bài này là một ví dụ, nguyên đám tự sướng khoái được thế giới khen, thậm chí không có cũng đặt điều nói là được khen. Tư duy nhược tiểu đến mức là cần được thế giới khen, mỗi lần có bài báo nói đến VN gì là hít lấy hít hà tự hào này nọ, ví dụ vụ gia công chuyển đống đồ bảo hộ cho Mỹ nguyên đám cũng tự sướng hít lấy hít để. Sao không thấy thằng Mỹ, Pháp, Anh hay Nhật nào hít lấy hít để khi được VN hay cái nước nào khen? Tư duy hèn kém vậy bảo sao quốc gia dân tộc ngàn năm nay vẫn là một nước nhược tiểu. Thiệt là lố bịch hết sức.

Mà giờ tôi thắc mắc không hiểu do vì nước mình nhược tiểu nên đa số dân mình có suy nghĩ hèn kém, an phận hay do đa số dân mình có suy nghĩ hèn kém an phận nên nước mình mới nhược tiểu?

Sưu tầm

TỪ THIỆN

Ngày ấy anh chị còn nghèo lắm.

Hai vợ chồng với 2 đứa con, nhà rách đến độ chả mua nổi cái khóa cửa. Sớm nào chị cũng chổng mông đạp 1 xe thồ rau muống suốt từ điếm 31 dưới Tứ Hiệp vào phố bán. Anh thì ốm đau suốt, chỉ quanh quẩn ở nhà.

Bữa ấy mưa rét, chị đứng hè phố bán rau thành ra dính cảm. Tầm trưa trưa chị đạp xe về đến cái chùa nhỏ ở Thanh Trì thì sa sẩm mặt mày, đành tựa xe vào tường chùa rồi ngồi phệt xuống thở cho đỡ choáng. Cửa chùa bật mở, một bà sư già bước ra. Ngó thấy chị ăn vận phong phanh, bà lẳng lặng vào trong mang ra cho túi quần áo cũ, chắc của khách thập phương bố thí.

Tối về, chị giở ra xem, bỗng phát hiện trong túi cái áo bu dông cũ còn sót tờ 100 đô. Hẳn là chủ cái áo để quên. Số tiền to làm chị bàng hoàng. Chị vốn có giấc mơ ấp ủ bấy lâu: đó là mở một hàng bún đậu mắm tôm vỉa hè.

Chừng tuần sau thì anh chị mò lên phố, chọn tạm đoạn phố vắng ở Hàng Trống làm điểm mở hàng. Thiên hạ bán 2.000 đồng một suất bún đậu, thì anh chị chỉ bán 1.200đ, lại chăm chút nên chả mấy mà khách đông nườm nượp. Chị ngồi rán đậu mỏi tay, anh tíu tít bưng bê, cô con gái nhỏ thì cắm mặt ngồi rửa bát trong cái xô nhựa.

Bán hàng được bao tiền, anh chị tích cóp mua hết đất để trồng rau muống. Tư duy của kẻ bán rau thì chỉ ước có thật nhiều đất để trồng rau, chứ có ai nghĩ đến lúc giá đất lên ào ào, anh chị nghiễm nhiên thành người giàu có. Rồi cứ mua đi bán lại, chả mấy mà tài sản đã vào hàng cự phú trong giới buôn bán bất động sản Hà thành.

Tròn 20 năm thì anh chị quyết định quay lại báo ơn ngôi chùa nhỏ ngày xưa.

Anh chị ngồi Range Rover đi trước, theo sau là 3 xe tải to chở đầy gạo mắm, gà lợn,… làm xôn xao ngôi chùa nhỏ.

Bà sư già năm xưa ra tiếp, nhìn chị ngỡ ngàng. Chị kể lại câu chuyện cũ, đồng thời xin phép bà cho chị tổ chức một chương trình từ thiện, chia quà phát lộc cho người nghèo ngay tại chùa trong vòng 1 tháng.

Nghe đến đó, bà sư già lắc đầu, xua xua tay:

– Cái người để quên tiền trong mấy bộ quần áo đó, nhà chùa chẳng biết là ai. Và có lẽ họ cũng không muốn thiên hạ biết mình là ai. Của cho không bằng cách cho. Nhà chùa xin cảm ơn.

Đoạn bà sai người đóng cửa chùa, tiễn khách.

Chị đứng chết trân trước 2 cánh cửa gỗ nhà chùa, lớp sơn nâu đã bạc phếch. Đoạn gạt nước mắt, quay về.

Chị đã nghĩ ra cách.

Nhà chùa đận này hay nhận được những bọc quần áo gửi từ thiện từ một khách vô danh. Bà sư già gặp kẻ nghèo khó lại lôi ra đem cho.

Toàn quần áo tinh tươm, gấp gọn gàng. Và lạ cái là trong túi quần túi áo kiểu gì cũng còn sót vài tờ tiền to to. Kẻ nghèo khó lục được thì reo ầm lên, mừng húm.

Chỉ có bà sư già là tủm tỉm cười.

Những lời cuối cùng của Steve Jobs

“Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui. Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản nhưng tôi cảm thấy thật vô nghĩa trước tử thần, cái chết.

Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho cuộc đời của bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn. Ví dụ như là lịch sử tình yêu nhân loại, nghệ thuật, ước mơ tuổi thơ… Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.

Thượng Đế tạo dựng chúng ta để cảm nghiệm được tin yêu trong tim, chứ không phải những ảo tưởng về tiền tài, danh vọng như tôi đã làm trong suốt cuộc đời nhưng không thể đem theo tôi được. Tôi có thể mang theo được những kỉ niệm của yêu thương. Đây mới chính là sự giàu sang sẽ có thể đồng hành với bạn, là sức mạnh, ánh sáng soi sáng cho bạn tiến tới. Tình yêu có thể đi hàng ngàn cây số và chính vì thế cuộc đời không có giới hạn. Đi, tiến đến nơi mà bạn muốn, Cố gắng lên để đạt được những mục đích. Tất cả là ở trong tim và trong lòng bàn tay của bạn.
Cái giường nào đắt giá nhất trên đời? Đó là giường bệnh viện, vì nếu có tiền, bạn có thể mướn tài xe lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê người mang bệnh cho bạn. Mất tài sản mình có thể tìm lại được, có một cái khi đã mất thì không thể tìm lại được: sự sống. Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả phải đối diện khi bức màn sự sống kéo xuống.Làm ơn hãy nâng niu và nhận thức được giá trị tình yêu gia đình, tình yêu bạn đời và tình yêu bạn hữu, gìn giữ sức khỏe

Tại sao không nên tin vào chính mình

“Vấn đề của thế giới chính là lũ điên thì lại chắc chắn về bản thân mình còn người thông minh thì lúc nào cũng trăn trở về điều đó.”

Bertrand Russell

Sau nhiều năm chiêm nghiệm, tôi đã nhận ra được tầm quan trọng của việc tìm kiếm sự an yên giữa những bất ổn và mơ hồ, giữa những thắc mắc về niềm tin và mộng ước, và hơn cả giữa những hoài nghi về chính bản thân mình. Trong các bài viết trước đây, tôi thường xuyên lặp đi lặp lại một thông điệp là bộ não của chúng ta thực chất không hề đáng tin chút nào. Chúng ta không hề có bất cứ một cơ sở nào về việc chúng ta đang nói, nghĩ, làm,…

Nhưng tôi chưa có dịp để đưa ra những lý giải và dẫn chứng cụ thể cho vấn đề trên. Và bây giờ là lúc thích hợp để chúng ta cùng nhau khám phá ra 8 lý do theo góc nhìn tâm lý học tại sao chúng ta không nên tin chính bản thân mình.

CHÚNG TA CÓ XU HƯỚNG THIÊN VỊ CHO BẢN THÂN VÀ TRỞ NÊN ÍCH KỶ DÙ KHÔNG HỀ NHẬN RA

Có một thuật ngữ trong tâm lý học mang tên Góc nhìn sai lệch của người quan sát (the Actor-Observer Bias).

Chẳng hạn nếu bạn thấy một người vượt đèn đỏ ở ngã tư đường, có thể bạn sẽ nghĩ người này thật đáng trách, chỉ vì không kiên nhẫn chờ nổi vài giây mà đã gây nên nguy hiểm cho bao nhiêu người đi đường.

Ngược lại, nếu bạn chính là người đang vượt đèn đỏ, bạn sẽ tự nhủ với bản thân mình rằng đó chỉ là do vô ý mà thôi, bởi vì cái cây chết tiệt kia chắn mất tầm nhìn, bởi vì xưa giờ người vượt đèn đỏ có gây ra hề hấn gì đâu.

Cùng một hành động, nhưng nếu người khác làm thì họ nghiễm nhiên trở thành một tên khốn, còn nếu bạn làm thì đó chỉ là do vô ý.

Chúng ta đều có những lúc như thế, đặc biệt là khi phải đối diện với các vấn đề mâu thuẫn. Khi nói về một người đã từng làm tổn thương mình, chúng ta sẽ mô tả họ như một giống loài vô cảm, thiếu trách nhiệm, có ác ý làm hãm hại người khác. (1)

Tuy nhiên, khi chúng ta nói về việc mình đã làm tổn thương ai đó, chúng ta sẽ viện đủ lý do chỉ để biện minh rằng hành động của chúng ta hoàn toàn hợp lý. Trong trường hợp này, tâm trí chúng ta ngụy biện rằng những tổn thương mà chúng ta gây ra cho người khác không đáng là bao, thế nên việc bị buộc tội bản thân thật là vô lý.

Cả hai góc nhìn này đều hoàn toàn sai. Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng cả thủ phạm và nạn nhân đều sẽ xuyên tạc sự thật bằng cách kể lại câu chuyện kèm theo quan điểm của mình.

Steven Pinker gọi hiện tượng này là Lỗ hổng Luân lý (Moralization Gap).(2) Bất cứ khi nào xung đột xuất hiện, chúng ta thường sẽ đánh giá quá cao thiện chí của bản thân và ngược lại, đánh giá xấu chủ ý của người khác. Điều này khiến chúng ta luôn tin rằng những người kia đáng để bị trừng phạt trong khi chúng ta phải được khoan hồng.

Tâm trí chúng ta lúc này hoạt động một cách vô thức vì kể cả khi đang biện minh cho chính mình, chúng ta đều luôn nghĩ nó hoàn toàn hợp lý. Nhưng thực ra sự thật không phải như vậy.

BẠN KHÔNG HỀ BIẾT ĐIỀU GÌ LÀM MÌNH HẠNH PHÚC (HOẶC ĐAU KHỔ)

Trong cuốn sách Stumbling on Happiness, (đã có bản tiếng Việt với tự đề ‘Tình cờ gặp hạnh phúc’) Daniel Gibert, nhà tâm lý học tại đại học Harvad, đã chỉ ra việc chúng ta rất tệ trong việc nhớ điều gì tác động đến cảm xúc của bản thân trong quá khứ cũng như tương lai.

Chẳng hạn, nếu đội thể thao ưa thích của bạn bị thua tại giải thi đấu lớn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng buồn. Nhưng hóa ra trí nhớ về việc bạn cảm thấy buồn như thế nào lại không liên quan gì đến việc bạn cảm thấy buồn trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, mỗi khi nhớ về những điều tệ hại lúc xưa, chúng ta thậm chí còn thêm thắt quá nhiều cảm xúc tiêu cực so với tình hình thực tế lúc đó. Tương tự, khi nhớ về những kí ức tốt đẹp lúc trước, chúng ta thường cho là chúng vui hơn so với thực tế lúc đó.

Thế nên khi hoạch định về tương lai, chúng ta thường đánh giá quá cao niềm hạnh phúc mà những điều tốt đẹp sẽ mang lại cũng như tin rằng những điều không may mắn sẽ làm chúng ta cảm thấy tệ hại khôn cùng. Để rồi chúng ta thường không nhận ra được bản thân mình đang thực sự cảm thấy như thế nào trong thời khắc của hiện tại.

Đây cũng là một lý do mà mọi người biện minh về việc không thể theo đuổi được hạnh phúc. Tất cả mọi thông tin chỉ ra rằng chúng ta thậm chí còn không biết hạnh phúc thực chất như thế nào thì làm sao có thể thực sống trong hạnh phúc.

CHÚNG TA DỄ BỊ LỢI DỤNG ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG QUYẾT ĐỊNH SAI LẦM

Bạn đang đi trên đường thì bỗng có một người lạ lịch sự đến gần với mong muốn được tặng cho bạn vài cuốn sách báo “miễn phí”, ngay khi bạn cầm lấy chúng thì họ hỏi bạn tham gia cái này cái kia và quyên cho họ chút tiền vì họ đang gặp khó khăn. Đã bao giờ bạn lâm vào tình huống này chưa? Bạn biết là điều này thật kì cục và bạn muốn từ chối. Nhưng mà, cái này được tặng free đấy với cả bạn chả muốn bị coi là kẻ hờ hững với hoàn cảnh khó khăn chút nào.

Yeah, đó chính là mấu chốt của vấn đề.

Hóa ra là, quyết định của con người dễ bị chi phối bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là việc tặng “quà” cho họ trước khi yêu cầu họ trả lại (điều này khiến khả năng giữ lại món quà cao hơn).

Hoặc thử cách này, lần tới nếu bạn thấy một dòng người xếp hàng dài ngoằng và muốn chen lên trước, chỉ việc đưa ra một lý do cho mọi người – bất cứ lý do nào – chẳng hạn “Tôi đang vội” hoặc “Tôi đang ốm”. Theo thí nghiệm, chỉ cần nhờ lý do ngắn gọn này mà bạn có đến 80% cơ hội thành công để chen lên trước hơn là không đưa ra lời giải thích. Điều tuyệt vời nhất là: cái lý do bạn đưa ra không cần phải logic hay có ý nghĩa gì cả.(3)

Các nhà kinh tế học thành vi đã chỉ ra rằng chúng ta dễ dàng có xu hướng tập trung vào một loại giá thành hơn các loại khác dù chả vì lý do gì. Hãy nhìn vào hình vẽ dưới đây:

Ở phía bên trái, sự khác biệt về giá có vẻ lớn và không hợp lý. Thế nhưng, nếu thêm chai rượu mức giá $50 như hình bên phải thì đột nhiên, chai rượu với giá $30 bỗng trở thành một mức vừa phải và có lẽ là một món hời.

Hãy thử xem một ví dụ khác nữa. Có người nói rằng bạn cần phải chi $2,000 cho chuyến đi Paris bao gồm bữa ăn sáng hoặc một chuyến đi Rome kèm bữa ăn sáng hoặc một chuyến đi Rome không kèm bữa ăn sáng. Hóa ra việc đưa thêm một lựa chọn “Rome không kèm ăn sáng” đã giúp cho nhiều người chọn Rome kèm ăn sáng hơn Paris. Tại sao vầy? Bởi vì nếu so sánh với chuyến đi Rome mà không có bữa ăn sáng, việc đi Rome kèm bữa ăn sáng có vẻ là một món hời. Thế là não bộ của chúng ta nhanh chóng quên đi mất chúng ta vẫn còn một sự lựa chọn nữa mang tên Paris.(4)

BẠN THƯỜNG CHỈ DÙNG LOGIC VÀ LÝ LUẬN ĐỂ LÝ GIẢI CHO NHỮNG NIỀM TIN CÓ SẴN CỦA BẢN THÂN

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng kể cả những người đã bị tổn hại chức năng thị lực trên não bộ vẫn có thể “thấy” được ngay cả khi họ không nhận ra. Những người mù hay nói rằng họ không thể nhìn thấy được tay của mình ngay cả khi đưa nó ra trước mặt. Nhưng nếu có một ánh đèn lóe lên ngay trước mắt họ, dù ở phía bên phải hay trái, họ vẫn thường đoán chính xác được đèn lóe lên bên nào.

Và dù vậy, họ vẫn cứ nói bạn rằng đó hoàn toàn là đoán đại mà thôi.

Họ không hề có một gợi ý nào về việc đèn sáng bên nào nhưng vẫn có nhận định được ánh đèn nằm ở đâu.

Điều này thể hiện một sự trớ trêu nực cười: kiến thức và cảm giác biết kiến thức đó hoàn toàn không liên quan đến nhau.(5)

Và cũng giống như những người mù, chúng ta đều có kiến thức mà lại thiếu đi cảm giác biết kiến thức. Nhưng điều ngược lại, bạn có thể cảm tưởng là mình đã biết điều đó rồi mặc dù thực ra bạn không hề, cũng hoàn toàn là thật.

Đây chính là nguồn cơn cho mọi thiên vị cũng như ngụy biện. Chúng ta không nhận thức được sự khác biệt giữa cái mình thực sự biết và cái mình tưởng là mình biết. Do đó, các lý do kèm động cơ và các ngụy biện đã được xác nhận cứ liên tục diễn ra trong đời sống hàng ngày.

CẢM XÚC CHI PHỐI NHẬN THỨC CỦA BẠN NHIỀU HƠN BẠN NGHĨ

Nếu giống như hầu hết mọi người, bạn thường có xu hướng đưa ra những quyết định tồi dựa trên cảm xúc. Đồng nghiệp chỉ buông vài câu bông đùa về đôi giày của bạn mà bạn đã nhảy dựng đứng lên, bởi vì đó là di vật bà người bà đã mất trao lại. Thế là bạn quyết định “phải bằm nát lũ người này ra”, bỏ việc và sống dựa vào tiền phúc lợi. Đây hoàn toàn là một quyết định không hợp lý.

Nhưng việc tệ nhất chưa phải nằm ở đây đâu.

Kể cả khi chúng ta đã nhận thức được việc cảm xúc chi phối các quyết định, chúng ta đã tránh việc đưa ra các quyết định trong lúc đang có nhiều cảm xúc trong lòng, thì đây vẫn không phải là một giải pháp lâu dài. Bởi vì, cảm xúc có thể ảnh hưởng đến chúng ta hàng tháng, hàng năm, kể cả khi chúng ta đã nguôi giận và bắt đầu “phân tích” tình huống trước đó. Những cảm xúc ngắn hạn tại một thời điểm nào đó, hóa ra, lại có tác động lâu dài đến các quyết định chúng ta đưa ra sau này.(6)

Lấy ví dụ như thế này. Một người bạn bỗng muốn rủ bạn đi uống nước. Nhưng vì lý do nào đó, cơ chế phòng vệ của bạn bỗng được dựng lên. Bạn không muốn gập đầu cái rụp dù bạn cũng rất quý anh bạn ấy và muốn được trò chuyện với anh ta nhiều hơn. Bạn thận trọng trong việc đưa ra một phương án dù bạn không hiểu tại sao mình phải như vậy.

Điều mà bạn đã lãng quên chính là bạn đã từng có một người bạn tính tình nóng lạnh thất thường trước đây. Anh chàng đó cứ thỉnh thoảng lại nổi đóa lên bất thường với bạn. Bạn bước tiếp trong cuộc sống và dần quên mất những chi tiết đó trong quá khứ. Mối quan hệ giữa bạn và người cũ thậm chí còn quay trở lại bình thường.

Lúc đó bạn đã có đôi lần cảm thấy tổn thương và bực bội. Có thể về mặt nhận thức, bạn đã quên đi câu chuyện cũ, nhưng cảm xúc của bạn thì không. Nó vẫn đã từng nhớ mình đã cảm thấy buồn bã như thế nào. Để rồi khi giờ đây đối diện với một người hoàn toàn khác, trong một tình huống hoàn toàn khác, nó vô thức dựng lên hàng rào bảo vệ cho chính bạn.

Chúng ta thường dựa vào kí ức về những cảm xúc mà chúng ta đã có trong một thời điểm nào đó trước đây để làm nền tảng đưa ra nhiều quyết định sau đó. Vấn đề là, bạn hoàn toàn không có ý thức về điều này. Cảm xúc mà bạn đã có 3 năm trước đây có thể ảnh hưởng đến bạn bất cứ lúc nào.

Bàn về trí nhớ…

TRÍ NHỚ KHÔNG HỀ ĐÁNG TIN

Elizabeth Loftus là một trong những nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực trí nhớ và cô ấy là người đầu tiên nói với chúng ta rằng trí nhớ của mình hoàn toàn không hề đáng tin.

Về cơ bản, cô nhận ra rằng trí nhớ của chúng ta về các sự kiện trong quá khứ thường bị thay đổi bởi các sự kiện khác lúc xưa và/hoặc các thông tin thiếu chính xác mới. Cô đã khiến cho nhiều người nhận ra rằng lời khai từ nhân chứng không hẳn là một chứng cứ đáng tin.(8)

Loftus và các nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng:

  • Trí nhớ của chúng ta không chỉ bị mất dần mà còn dễ đưa ra các thông tin sai lệch theo thời gian.
  • Cảnh báo mọi người rằng kí ức của họ chứa các thông tin sai lệch cũng không giúp làm giảm đi các thông tin sai lệch.
  • Bạn càng có tính cảm thông nhiều bao nhiêu thì bạn càng dễ đồng nhất các thông tin sai lệch vào trong trí nhớ của mình bấy nhiêu.
  • Trí nhớ của chúng ta không chỉ bị thay đổi bởi các thông tin sai lệch mà có thể toàn bộ kí ức của chúng ta đã bị tạo ra. Điều này thường diễn ra khi người tạo ra kí ức của chúng ta lại chính là những người mà chúng ta tin tưởng.

Vì thế, kí ức của chúng ta hoàn toàn không hề đáng tin như mình đã nghĩ – thậm chí với những việc chúng ta nghĩ là đúng thì chỉ có phần chúng ta nghĩ là sự thật mà thôi.

Trên thực tế, các nhà thần kinh học đã dự đoán lúc nào con người sẽ nhớ sai thông tin dựa trên các hoạt động trí não của bạn. Tại sao vậy?

Họ lý giải điều này dựa trên việc so sánh trí nhớ với bộ nhớ của máy tính. Ban đầu, bộ nhớ sẽ ghi lại hết tất cả mọi thứ được đưa vào. Sau đó, chúng chậm dần, làm mất hoặc hư các file dữ liệu ngay sau khi bạn đã tạm dừng sử dụng. (10)

Nhưng bộ não của chúng ta không chỉ chứa spreadsheet, và file chữ hay GIFs. Trí nhớ giúp chúng ta học được từ các sự kiện trong quá khứ để từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn hơn cho tương lai. Nhưng trí nhớ thực chất còn có 1 chức năng quan trọng và phức tạp khác mà chúng ta ít khi nghĩ đến.

Là người, chúng ta cần sự nhận dạng, chúng ta cần có cảm giác về việc “chúng ta là ai”, để từ đó điều hướng được các tình huống xã hội phức tạp cũng như để hoàn thành xong công việc. Trí nhớ giúp chúng ta biết được sự nhận dạng nhờ các câu chuyện trước đó.

Bằng cách này, việc kí ức có chính xác hay không không quan trọng. Điều mấu chốt chính là các câu chuyện của quá khứ đã tạo nên nhận thức về chính bản thân. Và thay vì phải sử dụng trí nhớ với độ chính xác tuyệt đối để thực hiện điều này, chúng ta thực chất chỉ cần các kí ức mờ nhạt, sau đó thêm thắt vào các chi tiết khác nhau để phù hợp với “cái tôi” mà chúng ta tạo ra và chấp nhận.

Có thể bạn nhớ rằng anh hay bạn bè đã từng bắt nạt mình rất nhiều và mình đã cảm thấy tổn thương như thế nào. Với bạn, đó là lý giải cho việc bản thân dễ nhạy cảm, hay lo lắng và khá e dè. Nhưng có lẽ kí ức đó không hề làm bạn tổn thương nhiều như mình đã nghĩ. Có lẽ khi nhớ về việc anh trai đã bắt nạt bạn lúc xưa, bạn đã dùng những cảm xúc ngay lúc này – nhạy cảm, lo lắng và e dè – và neo nó vào kí ức cũ, dù đống cảm xúc đó có khi lại chả hề liên quan gì đến việc anh trai đã bắt nạt bạn.

Kể từ giờ phút này, kí ức về việc ông anh trai đã nhẫn tâm và làm bạn tổn thương, dù đúng hay không, cũng đã gắn vào đặc điểm nhận dạng của bạn – một người dễ nhạy cảm, hay lo lắng. Đồng thời, đặc điểm này đã khiến bạn đưa ra những hành động đáng xấu hổ và tạo thêm nhiều đau khổ trong cuộc đời mình.

Có phải bạn đang hỏi tôi là: “Mark, vậy thì việc “tôi nghĩ tôi là ai” chỉ là một đống những ý tưởng bịa đặt do não bộ tạo ra thôi ư?”

Vâng, đúng thế đấy.

‘BẠN KHÔNG PHẢI LÀ ĐIỀU MÌNH NGHĨ

Hãy xem xét khía cạnh này: cách bạn thể hiện bản thân trên Facebook có lẽ không thực sự giống như cách bạn thể hiện bản thân khi rời “thế giới ảo”. Cách bạn hành xử lúc ở gần ông bà có lẽ sẽ khác khá nhiều so với lúc đi chơi với bạn bè. Bạn có “cái tôi tại công việc”, “cái tôi tại nhà””, “cái tôi trong gia đình”, “cái tôi khi ở một mình” và còn rất nhiều “cái tôi” khác nữa mà bạn dùng để điều hướng và sống sót trong thế giới xã hội phức tạp này.

Nhưng đâu mới là cái tôi “đích thực”?

Chúng ta có thể nghĩ rằng có lẽ một trong những bản sao ở trên thể hiện chính mình thực nhất. Nhưng một lần nữa, tất cả những việc bạn làm chỉ là lặp đi lặp lại câu chuyện vốn đã chiếm hữu trong đầu mình, những câu chuyện được tạo ra bởi các thông tin sai lệch.

Trong hơn một vài thập kỉ, các nhà tâm lý học xã hội đã khám phá ra một sự thật mà chúng ta khó lòng nào chấp nhận: cái tôi đích thực (core self) – cái tôi không thay đổi, cái tôi bất biến – chỉ là ảo tưởng mà thôi. (11) Một nghiên cứu mới đang bắt đầu chỉ ra việc cách thức bộ não tạo nên cảm giác về cái tôi cũng như việc sử dụng các thuốc gây ảo giác có thể tạm thời làm thay đổi sự vận hành của não bộ, khiến não tạo ra những ảo giác tạm thời về các định dạng bản thân.(12)

Điều trớ trêu là tất cả những thí nghiệm này – tuy được xuất bản trong những cuốn sách đắt tiền, được viết bởi những chuyên gia có tiếng – hóa ra chỉ đang lặp lại các triết lý truyền thống phương Đông mà các thiền sư giảng giải trong suốt hàng thế kỉ nay. Trong khi việc duy nhất mà các thiền sư làm chỉ là ngồi yên trong các hang động và không nghĩ gì cả trong vài năm.(13)

Ở phương Tây, con người thường xuyên đề cao cái tôi cá nhân trong nhiều nền văn hóa – chưa kể tới trong ngành công nghiệp quảng cáo – khiến chúng ta không ngừng tìm cách “định dạng” bản thân mà hiếm khi chịu dừng lại đủ lâu để tự vấn rằng liệu điều này có cần thiết để lao đầu vào hay không. Có lẽ ý tưởng về việc “nhận dạng bản thân” vừa hại vừa giúp chúng ta. Có lẽ nó đang trói buộc chúng ta nhiều hơn là giải phóng chính mình. Tất nhiên, thật tuyệt khi bạn biết mình muốn hoặc thích gì, nhưng bạn vẫn có thể theo đuổi ước mơ và mục tiêu của bản thân mà không cần phải dựa vào ý niệm chắc chắn về sự định dạng.

TRẢI NGHIỆM THỂ CHẤT CỦA BẠN TRONG THẾ GIỚI NÀY KHÔNG HOÀN TOÀN LÀ THẬT

Chúng ta đang sở hữu một hệ thống thần kinh phức tạp. Nhờ có nó mà thông tin không ngừng được truyền đến não bộ. Theo một số tính toán, hệ thống giác quan – thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác, vị giác và sự cân bằng – gửi 11 triệu bit thông tin đến não chỉ trong vài giây. (14)

Nhưng kể cả như thế, chúng ta vẫn không thể nhận thức được những sự vật sự việc li ti, khó nhìn thấy. Ánh sáng mà chúng ta thấy được chỉ là một phần nhỏ trong dải quang phổ điện từ. Chúng ta không thể thấy được điều này trong khi các loài chim hay côn trùng lại có thể. Chó có thể nghe và ngửi được những thứ mà chúng ta thậm chí không ý thức được sự tồn tại. Hệ thần kinh của chúng ta hoạt động vừa như bộ máy thu thập thông tin vừa như bộ máy lọc thông tin.

Hơn hết, tâm thức của con người chỉ có thể kiểm soát được 60 bit thông tin trong một giây khi chúng ta đang tham gia vào các hoạt động gắn với trí thông minh (đọc sách, chơi nhạc cụ, …) (15)

Có nghĩa là, bạn chỉ có thể ý thức được khoảng 0.000005454% phần thông tin mà não bộ nhận được trong khi đang còn tỉnh.

Để dễ hiểu hơn, hãy tưởng tượng là với mỗi chữ mà bạn nhìn thấy và đọc trong bài viết này, có 536,303,630 chữ khác mà bạn không thể nhìn thấy.

Về cơ bản, đó là cách chúng ta sống trong thế giới này mỗi ngày.

Ghi chú:

  1. See Roy Baumeister and Aaron Beck’s Evil: Inside Human Violence and Cruelty.↵
  2. See: The Better Angels of Our Nature by Steven Pinker, Chapter 8, to be exact.↵
  3. These experiments and more explained in Robert Cialdini’s timeless book Influence.↵
  4. This is a shitty summary of an experiment conducted by Dan Ariely of Duke University, discussed in his excellent book Predictably Irrational.↵
  5. In fact, your brain has completely independent processes for each of these and both function independently of logic and reason. See Dr. Robert Burton’s book On Being Certain: Believing You Are Right Even When You’re Not.↵
  6. Andrade, E. B., & Ariely, D. (2009). The enduring impact of transient emotions on decision making. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 109(1), 1–8.↵
  7. Loftus, E. F. (2005). Planting misinformation in the human mind: A 30-year investigation of the malleability of memory. Learning & Memory, 12(4), 361–366.↵
  8. She’s also a controversial figure for her work in revealing that repressed memories are sometimes false. She was one of the first to come out with skeptical criticism of a lot of therapists in the 1990s when it was all the rage for them to dredge up (and sometimes plant) repressed memories of childhood abuse and trauma in their patients.↵
  9. Okado, Y., & Stark, C. E. (2005). Neural activity during encoding predicts false memories created by misinformation. Learning & Memory, 12(1), 3–11.↵
  10. Although, I guess that’s kind of what we do with every new Windows update that comes out.↵
  11. See Bruce Hood’s The Self Illusion: How the Social Brain Creates Identity.↵
  12. Tagliazucchi, E., Roseman, L., Kaelen, M., Orban, C., Muthukumaraswamy, S. D., Murphy, K., … Carhart-Harris, R. (2016). Increased Global Functional Connectivity Correlates with LSD-Induced Ego Dissolution. Current Biology.↵
  13. Much harder than it sounds, but you don’t need a PhD to do it.↵
  14. Estimates vary wildly, but nearly all of them are in the tens to hundreds of millions of bits per second. The point is, it’s a lot.↵
  15. Technology Review | New Measure of Human Brain Processing Speed.↵

Dịch: Hạnh Nguyên

Tác giả: Mark Manson

Nguồn: https://markmanson.net/trust / http://tamlyhoctoipham.com/tai-sao-khong-nen-tin-vao-chinh-minh